Giữ uy tín hàng Việt từ câu chuyện xuất xứ

Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng khắt khe, xuất xứ hàng hóa không còn đơn thuần là thông tin ghi trên nhãn sản phẩm mà trở thành một trong những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận thị trường. Việc hàng hóa nước ngoài tìm cách “khoác áo” xuất xứ Việt Nam để hưởng lợi về thuế hoặc né tránh các biện pháp phòng vệ thương mại đang đặt ra yêu cầu phải kiểm soát chặt từ nguyên liệu, quá trình sản xuất đến hồ sơ xuất khẩu, qua đó bảo vệ doanh nghiệp chân chính và uy tín hàng Việt.

Giữ uy tín hàng Việt từ câu chuyện xuất xứ
Giữ uy tín hàng Việt từ câu chuyện xuất xứ

Nhận diện những khoảng trống trong câu chuyện xuất xứ

Cùng với sự dịch chuyển ngày càng mạnh của dòng hàng hóa và chuỗi cung ứng toàn cầu, câu chuyện xuất xứ đang trở thành một trong những vấn đề được đặc biệt lưu ý đối với hàng xuất khẩu Việt Nam. Điều đáng lo không chỉ nằm ở những lô hàng khai sai nguồn gốc hay thay đổi nhãn mác, mà ở nguy cơ hàng hóa từ nước ngoài đi qua Việt Nam, trải qua một số công đoạn gia công, lắp ráp đơn giản rồi tìm cách mang xuất xứ Việt Nam để hưởng lợi về thuế hoặc né tránh các biện pháp phòng vệ thương mại.

Nguy cơ này càng đáng lưu ý khi các thị trường nhập khẩu không còn chỉ kiểm tra giấy chứng nhận xuất xứ hay thông tin thể hiện trên bao bì. Việc xác minh ngày càng đi sâu vào nguồn nguyên liệu, nhà cung cấp, năng lực nhà máy, công đoạn sản xuất và phần giá trị thực sự được tạo ra tại quốc gia xuất khẩu. Điều đó đồng nghĩa, chỉ cần một mắt xích trong chuỗi cung ứng thiếu minh bạch, doanh nghiệp có thể phải đối diện với những yêu cầu giải trình, xác minh kéo dài, rộng hơn, một ngành hàng cũng có nguy cơ bị tăng cường giám sát.

Thực tế, những dấu hiệu lợi dụng xuất xứ Việt Nam vẫn được lực lượng chức năng phát hiện. Tháng 8/2026, qua kiểm tra một lô hàng quá cảnh tại Bãi kiểm tra hàng hóa Viettel Post, xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn, Đội Kiểm soát chống buôn lậu số 1, Chi cục Điều tra chống buôn lậu phối hợp Hải quan Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị phát hiện 17/20 mục hàng không phù hợp với khai báo và 5/35 mục hàng không khai báo. Trong số hàng hóa nghi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có 800.000 chiếc bật lửa bỏ túi gắn nhãn TAIYO, 220 đôi dép gắn nhãn CROCS và 50 tay nắm cửa ô tô gắn nhãn FORD.

Cơ quan Hải quan nhận định, hiện nay, thủ đoạn được sử dụng là lợi dụng chính sách thông thoáng đối với hàng quá cảnh để không khai hoặc khai sai tên hàng, chủng loại, qua đó vận chuyển hàng có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và giả mạo xuất xứ Việt Nam. 

Vụ việc cho thấy gian lận xuất xứ hiện nay không đơn giản là thay một chiếc nhãn trên sản phẩm. Khi chuỗi cung ứng được chia thành nhiều công đoạn và trải qua nhiều quốc gia, hành vi gian lận có thể bắt đầu ngay từ khâu nhập nguyên liệu, linh kiện, tổ chức sản xuất cho tới lập hồ sơ chứng minh nguồn gốc hàng hóa. Một sản phẩm vì thế có thể được hoàn thiện về mặt giấy tờ, nhưng phần giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam lại không tương xứng với xuất xứ được khai báo.

Chính từ những nguy cơ này, cơ quan Hải quan đã tăng cường kiểm soát, đồng thời nhận diện nhiều phương thức, thủ đoạn cần đặc biệt lưu ý. Theo Công văn số 17552/CHQ-GSQL của Cục Hải quan, hàng hóa có thể được nhập khẩu dưới dạng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc linh kiện nhưng tại Việt Nam chỉ trải qua những công đoạn gia công, lắp ráp đơn giản, chưa đáp ứng tiêu chí xuất xứ rồi vẫn tìm cách khai báo là hàng Việt Nam. Một số trường hợp có thể chia nhỏ linh kiện cho nhiều doanh nghiệp đứng tên nhập khẩu, sau đó tập hợp, lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh; hoặc khai không đúng nguồn nguyên liệu, sử dụng hợp đồng, hóa đơn không phản ánh đúng thực tế, quay vòng chứng từ để phục vụ việc chứng minh xuất xứ. 

Như vậy, vấn đề không nằm ở việc hàng hóa có được “đi qua” Việt Nam hay có thực hiện một vài công đoạn sản xuất tại Việt Nam, mà quan trọng là những công đoạn đó có đáp ứng quy tắc xuất xứ hay không. Đây chính là ranh giới cần được kiểm soát chặt để hoạt động gia công, sản xuất hợp pháp không bị lợi dụng làm bình phong cho chuyển tải bất hợp pháp.

Minh bạch từ gốc để không làm khó doanh nghiệp làm thật

Rủi ro lớn nhất của gian lận xuất xứ nằm ở chỗ lợi ích có thể thuộc về một số doanh nghiệp vi phạm, nhưng hậu quả lại không dừng ở chính doanh nghiệp đó. Khi một lô hàng bị nghi ngờ chuyển tải bất hợp pháp hoặc giả mạo xuất xứ, cơ quan chức năng của nước nhập khẩu có thể mở rộng xác minh sang những doanh nghiệp khác trong cùng ngành, yêu cầu chứng minh nguồn nguyên liệu, nhà cung cấp, năng lực sản xuất, quy trình gia công và tỷ lệ giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam.

Minh bạch xuất xứ góp phần giữ vững uy tín hàng Việt. Ảnh minh họa.

Khi đó, ngay cả doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định cũng phải bỏ thêm thời gian, nhân lực và chi phí để chứng minh sản phẩm của mình có xuất xứ hợp pháp. Nếu tình trạng vi phạm diễn ra ở quy mô lớn hoặc kéo dài, rủi ro còn có thể lan sang cả ngành hàng, ảnh hưởng đến khả năng tận dụng ưu đãi từ các FTA cũng như hình ảnh hàng Việt trên thị trường quốc tế. Đây cũng là lý do việc chống gian lận xuất xứ không thể chỉ được nhìn dưới góc độ xử lý một hành vi gian lận thương mại đơn lẻ.

Câu chuyện trở nên đáng lưu ý hơn khi các đối tác thương mại ngày càng tăng cường kiểm chứng chuỗi cung ứng. Hiện nay, yêu cầu đối với doanh nghiệp không còn dừng ở việc xuất trình C/O mà phải có khả năng chứng minh một quá trình sản xuất liền mạch từ đầu vào đến thành phẩm. PGS.TS Đinh Công Hoàng, nghiên cứu viên cao cấp Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho rằng, C/O rất quan trọng nhưng nên được xem là “trang đầu” của hồ sơ xuất xứ chứ không phải toàn bộ hồ sơ.

Theo vị chuyên gia này, hồ sơ chứng minh xuất xứ cần bao quát từ hợp đồng, hóa đơn, tờ khai nhập khẩu và định mức nguyên vật liệu; sơ đồ công nghệ, lệnh sản xuất, nhật ký công đoạn; máy móc, công suất, lao động và sản lượng; đến chi phí, giá trị được tạo ra tại Việt Nam cũng như dữ liệu vận chuyển, lưu kho. Điều quan trọng không nằm ở số lượng giấy tờ mà ở khả năng kiểm tra chéo giữa hồ sơ và thực tế. Một nhà máy có công suất nhỏ, ít lao động nhưng lại xuất khẩu khối lượng hàng rất lớn rõ ràng sẽ đặt ra những câu hỏi cần được làm rõ.

Cách tiếp cận này cũng gợi mở hướng kiểm soát hiệu quả hơn đối với cơ quan quản lý. Thay vì chỉ kiểm tra khi hàng hóa đã đến cửa khẩu, việc phòng ngừa gian lận cần bắt đầu từ dữ liệu về nguyên liệu nhập khẩu, năng lực sản xuất và dòng hàng xuất khẩu. Những trường hợp nhập và xuất cùng mã hàng trong thời gian rất ngắn; giá trị đầu vào và đầu ra gần tương đương; xuất khẩu tăng đột biến nhưng máy móc, lao động hoặc công suất không thay đổi; hay doanh nghiệp mới thành lập đã có kim ngạch lớn là những dấu hiệu có thể được sử dụng để phân tích rủi ro.

Đây cũng là lý do sự liên thông dữ liệu giữa Hải quan, cơ quan thuế, cơ quan quản lý công thương và các đơn vị cấp C/O có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khi dữ liệu nhập nguyên liệu, hóa đơn, năng lực sản xuất và lượng hàng xuất khẩu được đối chiếu với nhau, những bất thường trong chuỗi sản xuất sẽ dễ được phát hiện hơn, thay vì chờ đến khi đối tác nước ngoài đặt câu hỏi mới bắt đầu xác minh.

Tuy nhiên, tăng kiểm soát không có nghĩa là tạo thêm những tầng thủ tục cho tất cả doanh nghiệp. Một hệ thống quản lý hiệu quả phải dựa trên mức độ rủi ro: Doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt, dữ liệu minh bạch và chuỗi cung ứng có khả năng truy xuất cần được tạo thuận lợi; những trường hợp xuất hiện dấu hiệu bất thường về dòng hàng, nguồn nguyên liệu, công suất hay chứng từ phải được kiểm tra sâu hơn. Cách làm này vừa giúp tập trung nguồn lực vào đúng đối tượng, vừa tránh để doanh nghiệp làm ăn chân chính phải gánh thêm chi phí không cần thiết.

Với doanh nghiệp, minh bạch xuất xứ cũng cần được coi là một phần của quản trị sản xuất chứ không chỉ là công việc của bộ phận làm thủ tục xuất nhập khẩu. Mỗi lô nguyên liệu cần có khả năng truy ngược về nhà cung cấp; sản phẩm đầu ra phải gắn được với quá trình sản xuất thực tế; hồ sơ về lao động, máy móc, định mức, kho bãi và chi phí phải đủ sức chứng minh rằng giá trị thực sự đã được tạo ra tại Việt Nam.

Quan điểm “minh bạch từ gốc” ngày càng trở nên quan trọng bởi thị trường hiện không chỉ quan tâm đến sản phẩm cuối cùng mà còn quan tâm đến những gì đứng phía sau sản phẩm. Trong môi trường thương mại mới, khả năng chứng minh chuỗi cung ứng minh bạch đang dần trở thành điều kiện để doanh nghiệp duy trì thị trường, thay vì chỉ là một lợi thế trong hoạt động quảng bá.

Đặc biệt, đối với EU, bên cạnh xuất xứ hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam còn phải thích ứng với các yêu cầu ngày càng chặt về môi trường, sức khỏe và phát triển bền vững. Hiện tại, EU liên tục cập nhật các quy định kỹ thuật, trong khi những yêu cầu mới liên quan đến môi trường và chuỗi cung ứng tiếp tục làm tăng áp lực tuân thủ đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, nếu để phát sinh thêm nghi ngờ về gian lận xuất xứ, lợi thế mà doanh nghiệp Việt Nam có được từ EVFTA có thể bị ảnh hưởng.

Bởi vậy, chống gian lận xuất xứ không chỉ là trách nhiệm của lực lượng Hải quan tại cửa khẩu. Cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm, tăng trao đổi dữ liệu và phối hợp giữa các lực lượng; các hiệp hội ngành hàng cần kịp thời thông tin những thị trường, mặt hàng có nguy cơ bị điều tra; còn doanh nghiệp phải chủ động rà soát nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất ngay từ trước khi ký kết, thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

Về lâu dài, nâng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước, chủ động nguồn nguyên liệu, đầu tư công nghệ và xây dựng hệ thống truy xuất minh bạch mới là giải pháp căn cơ. Một sản phẩm thực sự được sản xuất tại Việt Nam, với chuỗi cung ứng rõ ràng và đầy đủ bằng chứng về quá trình tạo ra giá trị, sẽ là cơ sở thuyết phục nhất để bảo vệ doanh nghiệp trước những nghi vấn về xuất xứ.

Trong cuộc cạnh tranh ngày càng khắt khe trên thị trường quốc tế, uy tín của hàng Việt không chỉ được hình thành từ chất lượng hay giá bán mà còn từ khả năng chứng minh sản phẩm được làm ra như thế nào và giá trị nào thực sự được tạo ra tại Việt Nam. Vì vậy, kiểm soát gian lận xuất xứ cũng chính là bảo vệ những doanh nghiệp đang đầu tư, sản xuất và xuất khẩu chân chính.

Giữ được sự minh bạch của xuất xứ là giữ được niềm tin đối với hàng Việt. Và khi hai chữ “Việt Nam” được ghi trên một sản phẩm xuất khẩu, phía sau đó cần là một chuỗi sản xuất có thể kiểm chứng, chứ không chỉ là một chiếc nhãn có thể thay đổi trước khi hàng rời khỏi cửa khẩu.

 

Thứ Hai, 28/09/2026 07:55
Theo thcl https://thuonghieucongluan.com.vn/giu-uy-tin-hang-viet-tu-cau-chuyen-xuat-xu-a335896.html Copylink